Nam Phi đã áp dụng Crypto Asset Reporting Framework (CARF) và mở rộng quy định Automatic Exchange of Information (AEOI) từ ngày 1/3, buộc các nhà cung cấp dịch vụ tài sản tiền điện tử báo cáo dữ liệu giao dịch chi tiết theo chuẩn quốc tế và tự động trao đổi thông tin tài khoản với hơn 120 khu vực pháp lý.
Cơ quan thuế sẽ so khớp dữ liệu khai thuế với hồ sơ giao dịch on-chain và giao dịch ở nước ngoài, chuyển từ mô hình trông chờ tự kê khai sang kiểm tra chủ động dựa trên dữ liệu.
- CARF và AEOI có hiệu lực từ 1/3 tại Nam Phi.
- Bắt buộc báo cáo giao dịch và trao đổi dữ liệu với hơn 120 khu vực pháp lý.
- Rủi ro bị kiểm tra có mục tiêu tăng; khuyến nghị dùng VDP để tự nguyện tuân thủ.
CARF và AEOI thay đổi nghĩa vụ báo cáo của dịch vụ tiền điện tử
Từ 1/3, các đơn vị cung cấp dịch vụ tài sản tiền điện tử tại Nam Phi phải báo cáo dữ liệu giao dịch chi tiết theo tiêu chuẩn quốc tế và tham gia cơ chế trao đổi thông tin tự động.
Việc mở rộng AEOI đồng nghĩa thông tin tài khoản sẽ được tự động chia sẻ với hơn 120 khu vực pháp lý, tạo thêm lớp đối chiếu xuyên biên giới cho các giao dịch và tài sản liên quan đến tiền điện tử.
Khung CARF chuẩn hóa yêu cầu báo cáo, khiến dữ liệu hoạt động của người dùng trên nền tảng trong nước có thể được dùng để đối chiếu với dữ liệu on-chain và hồ sơ ở nước ngoài trong cùng một quy trình kiểm tra.
Kiểm tra thuế chuyển sang mô hình chủ động dựa trên dữ liệu
Cơ quan thuế Nam Phi sẽ dùng nhận dạng mẫu và đối sánh dữ liệu để so sánh tờ khai thuế với giao dịch on-chain và giao dịch ở nước ngoài, thay vì phụ thuộc vào tự kê khai.
Phương pháp này nhắm đến việc phát hiện chênh lệch giữa thu nhập/tài sản khai báo và dấu vết giao dịch, đồng thời tăng khả năng khoanh vùng các trường hợp có rủi ro cao để kiểm tra có mục tiêu.
Các chuyên gia thuế nhận định không gian ẩn để né giám sát thuế thông qua nhiều ví, sàn giao dịch ở nước ngoài và cấu trúc offshore về cơ bản đã biến mất. Người nộp thuế nắm giữ tài sản số chưa kê khai hoặc tài sản offshore đối mặt rủi ro bị kiểm tra tăng, và được khuyến nghị chủ động tuân thủ thông qua các chương trình Voluntary Disclosure Projects (VDPs).





